| |
|
|
| |

Ngừa cảm lạnh, đầy hơi, ăn không tiêu, đau bụng,
tiêu đờm.
Tên khoa học: Zingiber offcinale Rosc.
Thuộc họ gừng Zingiberaceae.
Khương (Rhizoma Zingiberis) là thân rễ của cây gừng
tươi hoặc khô. Tùy theo tươi hay khô, vị thuốc mang
tên khác nhau:
Sinh khương là củ (thân rễ)tươi.
Can khương là thân rễ phơi khô.
Mô tả cây :
Gừng là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0.60 đến
1m. Thân rễ mẫm lên thành củ, lâu dần thành xơ. Lá
mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác dài 15 đến
20cm, rộng chừng 2cm, mặt bóng nhẵn, gân giữa hơi
trắng nhạt, vò có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ
gốc, dài tới 20cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau,
hoa dài 5cm, rộng 2-3cm, lá bắc hình trứng, dài
2.5cm, mép lưng màu vàng, đài hoa dài chừng 1cm, có
3 răng ngắn, 3 cành hoa dài chừng 2cm, màu vàng
xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng tím. Loài gừng
trồng ít ra hoa.
Phân bố, thu hái và chế biến :
Gừng được trồng ở khắp nơi trong đất nước ta để
lấy củ ăn và làm thuốc, dùng trong nước và xuất
khẩu. |
|
|
| |
Muốn có gừng tươi (sinh khương) thường đào củ vào
mùa hạ và thu. Cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch là
được. Muốn giữ gừng tươi lâu phải đặt vào chậu phủ
kín đất lên. Khi dùng đào lên rửa sạch. Mùa đông,
đào lấy những thân rễ già, cắt bỏ lá và rễ con, rửa
sạch, phơi khô sẽ được can khương.
Thành phần hóa học:
Trong gừng có chứa 2-3% tinh dầu. Ngoài ra còn có
chất nhựa dầu (5%), chất béo (3.7%), tinh bột và các
chất cay như zingeron, zingerola và shogaola.
Tinh dầu gừng có tỷ trọng 0.878, tả tuyền, năng suất
quay cực -25 độ ở -5 độ C, độ sôi 155-300 độ. Trong
tinh dầu có camphen, phelandren, một cacbua:
zingiberen C15H24, một rượu sesquitecpen, một ít
xitrala bocneola và geraniola.
Công dụng và liều dùng:
Theo tài liệu cổ: Sinh khương vị cay, tính hơi ôn,
vào ba kinh phế, tỳ và vị. Có tác dụng phát biểu tán
hàn, ôn trung, làm hết nôn, tiêu đờm, hành thủy giải
độc. Dùng chữa ngoại cảm, biểu chứng, bụng đầy
trướng, nôn mửa, giải độc bán hạ, nam tinh, cua cá,
đờm ẩm sinh ho. Can khương vị cay, tính ôn, bào
khương (can khương bào chế rồi) vị cay đắng tính đại
nhiệt. Vào sáu kinh tâm, phế, tỳ, vị, thận và đại
tràng. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hồi dương thông
mạch, dùng chữa thổ tả, bụng đau, chân tay lạnh,
mạch nhỏ, hàn ẩm xuyễn ho, phong hàn thấp tỳ. |
|
| |
|
|
|
|
 |